18/07/2026
Quê tôi có nghề đốt vôi
Các cô chú, bác lớn tuổi ở TP Nam Định có thể có nghe đến thương hiệu Vôi làng Cốc nổi tiếng 1 thời.
Quê tôi là 01 làng quê nhỏ nằm dọc theo con sông Đào, thuộc địa giới hành chính của huyện Vụ Bản cũ và ở ngay cạnh TP Nam Định về phía nam. Địa giới của làng gói gọn trong 1 câu thơ: “Thượng kênh Gia, hạ Cổ Bồng”, có nghĩa là, mặt trên giáp TP Nam Định bởi 01 con kênh Gia xưa kia xanh mát, gianh giới phía dưới của làng là cống Bồng, là 01 trạm bơm thủy lợi lớn của tỉnh Nam Định giúp tưới tiêu thoát nước cho nửa bắc của tỉnh Nam Định và 01 phần tỉnh Hà Nam, 2 mặt còn lại cơ bản được ngăn cách bởi con sông Đào và tuyến đường 10 cùng đường sắt Bắc Nam.
Không biết nghề đốt vôi có ở làng từ bao giờ, nhưng theo suy đoán của tôi (vì chưa có điều kiện hỏi các cụ cao niên) thì có thể bắt nguồn từ lò vôi thương binh ở đầu làng, gần chùa rồi sau đó lan ra cả làng, mà phát triển mạnh nhất là các xóm ngoài Trại (bao gồm xóm 7, xóm 8 ), nghề này phát triển nở rộ nhất vào thời kỳ mới đổi mới từ năm 1986 đến năm 2000 thì phai nhạt dần khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Trong trí nhớ thuở nhỏ của tôi thì các cô chú, các bác trong xóm hầu hết là những lao động chân tay tự do và lam lũ, vất vả, thường có 02 nghề chính trong xóm đó là nghề làm thợ nề, phụ nề và nghề đốt vôi(và các công việc liên quan), nghề nông thì có trồng rau muống và làm ruộng. Dưới đây tôi xin mô tả về công việc đốt vôi truyền thống của làng tôi trong giai đoạn những năm 199x, khi tôi là 01 đứa trẻ học tiểu học và còn sinh sống trong xóm.
Đầu tiên là mô tả về lò vôi: lò vôi ở đây là lò vôi thủ công quy mô hộ gia đình, cao khoảng 3-4m, đường kính khoảng 2-3m, vách lò khá dày và được xây thu lại khi lên cao, có 1 cửa lò rộng khoảng 1m là nơi đưa vật liệu đốt ra và vào lò. Lò thường được xây bằng gạch đỏ và vữa bùn, vôi, xỉ vôi… 1 số vị trí được gia cố bằng đá lớn, có bậc và lối đi dốc đi lên mặt lò. Trong xóm tôi có vài nhà có lò vôi, việc tổ chức đốt 01 lò vôi thì thường do các thành viên gia đình cùng tham gia như bố mẹ, con cái, ông bà, nếu cần thì thuê thêm người ngoài trong xóm, có nhiều nhà thì làm các công việc khác như số ít làm công nhân của các nhà máy trong TP Nam định như nhà máy Dệt (bố mẹ tôi), có người làm đóng tàu, có người thì làm nông như trồng rau, khá nhiều người làm nghề thợ nề và phụ xây, còn lại đa số tham gia vào hệ sinh thái của nghề đốt vôi, từ sản xuất vôi, đến tham gia phân phối, bán lẻ vôi cho khắp các công trình và nhà dân trong TP Nam định.
Để đốt 01 lò vôi, đầu tiên cần có than, là chất xúc tác để giúp đá được nung chảy thành vôi. Than là loại than cám được chở từ cảng than chính của TP Nam Định hoặc các cảng than tự phát trong làng (bãi gạch nhà ông bà tôi cũng là 01 điểm nhập than về, sẽ nói sau) về bằng xe công nông đầu ngang, đầu dọc. Than cám được đổ từng đống cạnh lò vôi. Vào những ngày trời nắng, người thợ đốt lò vôi sẽ nhào than này với bùn ao cho nhuyễn rồi đổ vào các khuôn bằng kim loại để đúc ra các bánh than. Sở dĩ có bùn là để giúp cho bánh than sau khô không bị gãy vỡ ra, ngoài ra chắc để giúp than cháy lâu hơn. Bánh than được thu hoạch và cất vào đống.
Nguyên liệu đá vôi được nhập từ Ninh Bình và Thanh Hóa, bằng thuyền sông chở ra, thuyền được tập kết tại các bãi bên sông, rồi dc phân phối khắp làng bằng những xe công nông của những người chuyên nghề chạy xe công nông của làng. Thời đó chưa có các máy cẩu hàng mà việc vận chuyển cát, đá, gạch, than chủ yếu bằng thủ công, sức người là những người chuyên gánh gạch, vác đá, đội than từ thuyền lên bến, vô cùng vất vả. Đá phân chia về các lò vôi, những hòn to còn tiếp tục được đập bởi các búa tạ cho vừa để nung vôi.
Công đoạn tiếp theo là vào lò vôi, đá, than được xếp xen kẽ nhau cho đầy lò, lần lượt chất lên cao có ngọn. Sau đó là chọn ngày giờ để đốt lò. Ban đầu để mồi cho than cháy thì củi sẽ được đút ở dưới miệng lò để đốt ban đầu. Sau 1 - 2 ngày lửa bắt đầu lan khắp lò và cháy lên trên thì đến công đoạn thú vị nhất với những đứa trẻ trong xóm. Đó là ngày hội cả xóm nấu cơm chung, hồi đó đất nước mới mở cửa, cuộc sống người dân lao động còn rất thiếu thốn, khó khan, vất vả, chạy ăn từng bữa, nhưng tình người thì tràn đầy, nhất là lũ trẻ vô tư, trong sáng, có 01 tuổi thơ đúng nghĩa, đầy trải nghiệm và hoàn thiện kỹ năng sống khá tốt. Hồi đó, chưa có bếp gas, nên vấn đề chất đốt để nấu cơm trong mỗi gia đình vô cùng tự phát,khó kiếm, bằng bất cứ thứ gì cháy được rơm, củi, lá cây, trấu, mùn cưa, bếp dầu, bếp điện(dây mai so)… nên mỗi khi có lò vôi đốt lên thì sẽ luôn được cả xóm tận dụng để mang nồi cơm, canh.. ra để tận dụng nhiệt lượng lớn của lò vôi để nấu nướng, nồi niêu được bọn trẻ mang lên trên đỉnh lò đặt vào các vị trí bằng phẳng tương đối và có nhiệt lượng thoát lên qua các khe đá. Thường thì việc này khá thường xuyên, do có nhiều lò vôi luân phiên nhau nổi lửa của các nhà trong xóm nên cũng tiết kiệm được kha khá chi phí củi cửa cho việc đun nấu. Mà hồi đó, bố mẹ thường phải túi bụi đi làm mưu sinh tối ngày kiếm từng đồng còm cõi về nuôi gia đình, nên việc nấu cơm thường do lũ trẻ đảm nhiệm.
Đó là những kỷ niệm của tuổi thơ tôi về những lò vôi trong xóm tôi của 01 thời kỳ đất nước mới mở cửa khó khăn và những người dân quê tôi vô cùng vất vả, lam lũ, nhưng cũng rất chăm chỉ, sáng tạo ra nghề tuy nặng nhọc nhưng cũng là lối thoát cho cuộc sống mưu sinh, để tồn tại và nuôi nấng đàn con nên người.
Hãy theo dõi và lắng nghe những câu chuyện của tôi về chuyện đời, chuyện nghề để hiểu them về đất nước, con người Việt Nam cũng như có thêm các thông tin bổ ích về ngành Xây dựng tự nhiên và các vật liệu sinh thái như Vôi, Tre, đất…